PHÁI NGŨ TUẦN VÀ NHỮNG THÁCH ĐỐ CHO GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

Thứ ba - 02/03/2021 06:56
Sự phát triển của phong trào Hiện Xuống đồng thời cũng là mối đe dọa nặng nề cho Giáo hội Công giáo, bởi lẽ khá nhiều tín hữu công giáo đã rời bỏ Giáo hội để gia nhập phong trào này. Từ sheep-stealing (ăn cắp chiên) được sử dụng nghe sao cay đắng và xót xa cho dẫu phản ánh khá trung thực cách thế mà phong trào này áp dụng để lôi kéo tín đồ, những cách thế không mấy phù hợp với tinh thần Kitô giáo. Tình hình này đã là nỗi băn khoăn mà các giám mục từ nhiều miền trên thế giới đề cập với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Bênêđictô XVI suốt 20 năm qua.
PHÁI NGŨ TUẦN VÀ NHỮNG THÁCH ĐỐ CHO GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
PHÁI NGŨ TUẦN VÀ NHỮNG THÁCH ĐỐ CHO GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

MỘT SỐ THÔNG TIN
Phái Ngũ Tuần hay còn được gọi là phong trào Hiện Xuống (Pentecostalism) mới chỉ bùng nổ vào những năm 1906–1909 ở Azusa Street tại Los Angeles (Hoa Kỳ), thế mà chỉ sau 100 năm, số tín đồ hiện tại (bao gồm cả phong trào canh tân đặc sủng của Công giáo) đã lên tới 600 triệu người, nghĩa là trở thành cộng đồng Kitô hữu lớn hàng thứ hai, chỉ sau Giáo hội Công giáo (1 tỷ 100 triệu) và lớn hơn các Giáo hội Tin Lành khác. Riêng tại Á châu, con số tín đồ thuộc phong trào này đã lên tới 135 triệu, phần lớn ở Hàn quốc, Trung Hoa, An Độ, Indonesia, nhưng cũng khá mạnh tại Philippines, Myanmar và Nhật Bản.
Sự phát triển của phong trào Hiện Xuống đồng thời cũng là mối đe dọa nặng nề cho Giáo hội Công giáo, bởi lẽ khá nhiều tín hữu công giáo đã rời bỏ Giáo hội để gia nhập phong trào này. Từ sheep-stealing (ăn cắp chiên) được sử dụng nghe sao cay đắng và xót xa cho dẫu phản ánh khá trung thực cách thế mà phong trào này áp dụng để lôi kéo tín đồ, những cách thế không mấy phù hợp với tinh thần Kitô giáo. Tình hình này đã là nỗi băn khoăn mà các giám mục từ nhiều miền trên thế giới đề cập với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Bênêđictô XVI suốt 20 năm qua.
Ngoài ra, cũng nên ghi nhận phong trào này đã có mặt tại Việt Nam nhưng xem ra người Công giáo Việt Nam không nắm được tình hình. Theo phân tích của các chuyên viên thì phong trào này đã có mặt tại nhiều nước trong khu vực Á châu nhưng ở những giai đoạn khác nhau: giai đoạn ấu thơ, giai đoạn đang phát triển, và giai đoạn thành công rực rỡ. Theo đó, phong trào Hiện Xuống tại Việt Nam được xếp vào giai đoạn ấu thơ, nghĩa là đã có sự hiện diện và đang tìm đường phát triển. Từ khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, cánh cửa đất nước mở rộng cho tiến trình toàn cầu hoá, đây là cơ hội thuận tiện cho phong trào này phát triển mạnh như tại Hàn quốc, Singapore, Malaysia, Philippines, và Indonesia.

VÀ NHỮNG BÀI HỌC
Những thông tin trên kéo theo những nỗi e ngại khi tự hỏi: Giáo hội Công giáo tại Việt Nam đã biết đến tình hình này chưa? Đối diện với tình hình đó, định hướng mục vụ nào có thể được coi là thích hợp và hiệu quả nhất?
Có lẽ phản ứng tự nhiên là lên án, lên án những sai lầm về mặt đức tin cũng như cách thế chiêu dụ tín đồ của phong trào này. Thế nhưng nếu chỉ ngưng lại ở đó thì liệu có ích lợi gì ? Chính ở đây, khá nhiều bài học có thể rút ra từ kinh nghiệm mục vụ của các Giáo hội chị em tại châu Á.
Bài học đầu tiên là cần mang lấy một lối nhìn tích cực hơn là tiêu cực, nghĩa là khám phá nơi đó sự hồi sinh tôn giáo. Chính Đức Gioan Phaolô II là người đi bước trước về thái độ này. Trong thông điệp Redemptor hominis, Ngài đã nhìn vấn đề và những thách đố của nó trong bối cảnh của một cuộc hồi sinh tôn giáo khi ngài viết: “Thời đại chúng ta vừa vĩ đại vừa hấp dẫn. Một đàng, trong khi xem ra người ta đang theo đuổi sự thịnh vượng vật chất và càng lúc càng chìm sâu trong chủ nghĩa tiêu thụ và duy vật, đàng khác ta lại đang chứng kiến sự kiếm tìm ý nghĩa đời sống, nhu cầu đời sống nội tâm, và một khát vọng học hỏi những hình thức và phương pháp mới giúp suy niệm và cầu nguyện. Không chỉ trong các nền văn hoá vốn có những yếu tố mạnh về tôn giáo nhưng ngay cả trong những xã hội tục hoá, người ta vẫn kiếm tìm chiều kích thiêng liêng của đời sống như phương thuốc chống lại tình trạng phi nhân. Hiện tượng này, cái được gọi là sự hồi sinh tôn giáo, không phải là không mơ hồ nhưng cũng là một cơ may” (số 38). Là một cơ may bởi lẽ người môn đệ Chúa Giêsu có thể giới thiệu cho thời đại này Tin Mừng như là lời đáp trả tuyệt hảo cho những khát vọng căn bản và sâu xa nhất của con người. Thế nhưng vấn đề là tại sao người ta không tìm thấy câu trả lời trong Giáo hội Công giáo mà lại đi tìm ở nơi khác, kể cả người Công giáo cũng bỏ đạo mà đi theo họ?
Câu hỏi đó dẫn đến bài học thứ hai mà hội nghị này muốn mọi tham dự viên quan tâm, ấy là thay vì trách người thì phải trách mình, thay vì vội vã lên án thì phải tự tra vấn cung cách làm mục vụ của mình. Đức Hồng y Walter Kasper đã nhấn mạnh đặc biệt điểm này khi ngài nói: Phản ứng đầu tiên của ta là phải nghiêm túc xét lại cách làm mục vụ của mình. Phải tự hỏi xem tại sao một số người Công giáo lại bỏ Giáo hội và trở thành những nạn nhân của các giáo phái và các nhóm ngoài Công giáo? Chúng ta không nên chỉ dừng lại với câu hỏi: đâu là điểm sai lầm của những giáo phái này, nhưng phải tự hỏi chính mình sai ở chỗ nào? Trong lòng Giáo hội, tín hữu cảm thấy thiếu thốn điều gì đến nỗi phải bỏ Giáo hội mà đi tìm trong những phong trào và giáo phái khác? Ta có thể học được điều gì từ họ?


Phong trào Hiện Xuống nhấn mạnh đến ba điểm, có thể được tóm tắt bằng ba từ tiếng Anh: believing, belonging, và behaving.

Believing là tin. Dĩ nhiên cả người Công giáo cũng như tín đồ của phong trào Hiện Xuống đều nhấn mạnh đến đức tin. Thế nhưng điều đáng nói là phong trào Hiện Xuống đề cao cảm nghiệm, cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa, cảm nghiệm sự hiện diện và tác động của Thánh Thần, được biểu hiện cách cụ thể qua các đặc sủng, việc nói tiếng lạ, chữa lành bệnh tật thể xác cũng như tâm hồn... Những câu hỏi mà các tín đồ của phong trào Hiện Xuống hay đặt ra cho người khác là: Bạn đã gặp Chúa chưa? Bạn đã nhận Chúa Giêsu vào lòng bạn chưa? Bạn đã thực sự là Kitô hữu chưa? Bạn có cảm nghiệm được tình yêu của Chúa chưa? Đồng thời những buổi cầu nguyện của phong trào này thường đầy cảm xúc, tác động mạnh trên tình cảm của người tham dự. Trong khi đó, xem ra phía Công giáo nhấn mạnh nhiều đến chân lý về mặt tri thức và có vẻ coi nhẹ cảm nghiệm vì cho rằng nó nặng cảm tính và dễ mang tính chủ quan. Câu hỏi có thể đặt ra là phải chăng chúng ta đã quá nhấn mạnh đến ý tưởng hơn là tình cảm, đến chân lý khách quan (objectivity) mà xem thường sự đáp ứng chủ quan của tín hữu (subjectivity)? Chẳng hạn như trong công tác giảng dạy, ta nhấn mạnh nhiều đến những lý luận mà không quan tâm xem những lý luận đó tác động trên tình cảm người nghe ra sao và được đón nhận thế nào. Rồi cử hành phụng vụ của ta không biết có tác động trên tâm hồn người tham dự không hay chỉ là những nghi thức máy móc, vô hồn? Nếu khoa tâm lý ngày nay nói với ta rằng không phải những ý tưởng nhưng chính tình cảm mới là cái gì sâu xa nhất nơi con người và có thể huy động sức mạnh của toàn bộ con người, thì nhận xét đó lại chẳng nên quan tâm trong cung cách làm mục vụ sao?

Thế rồi khi người Kitô hữu đặt niềm tin vào Chúa Kitô, thì đồng thời họ thuộc về Giáo hội của Chúa, đó là belonging. Nói về mặt lý thuyết là thế nhưng vấn đề là trong thực tế, người tín hữu có cảm nhận được rằng họ đang thuộc về một cộng đoàn, và được cộng đoàn đó yêu thương, quan tâm chăm sóc không. Không ít người cho rằng các cộng đoàn giáo xứ công giáo thường rộng lớn với nhiều ngàn người, vì thế khi đến nhà thờ dâng Thánh lễ, nhiều tín hữu cảm thấy mình như kẻ xa lạ và vô danh chứ không phải là thành viên của một cộng đoàn. Ấy là chưa kể đến một vài người có trách nhiệm mục vụ lại thích mang bộ mặt hình sự với giáo dân! Có vị giám mục Hồng Kông kể rằng có nhiều người công giáo Philippines sang Hồng Kông làm việc, và mỗi Chúa nhật, họ đến dự những buổi cầu nguyện của phong trào Hiện Xuống chứ không đi dâng lễ. Lý do là vì ở đó họ gặp được sự đón tiếp rất nồng hậu và cảm thấy được thoát ra khỏi tâm trạng cô đơn của những người phải làm việc xa nhà. Còn vị giám mục ở Mindanao, Philippines thì chia sẻ rằng ngài không phải lo lắng gì về phong trào này trong giáo phận của ngài, vì phần lớn các tín hữu thuộc về những cộng đoàn giáo hội cơ bản rất gắn bó với nhau và quan tâm chăm sóc cho nhau những gì rất cụ thể trong đời sống. Âu cũng là những kinh nghiệm quý báu cho các mục tử.

Cuối cùng, behaving là lối sống của những ai tin vào Chúa Kitô. Ở đây không muốn nói đến chuyện luân lý đạo đức nhưng chỉ liên tưởng đến điều mà Đức Hồng y Walter Kasper nhìn nhận rằng người Công giáo nên học hỏi từ các tín đồ của phong trào Hiện Xuống, ấy là dám tuyên xưng và làm chứng cho đức tin của mình. Cho dẫu không bằng lòng với cách thế loan báo Tin Mừng và chiêu dụ tín đồ của phong trào này, ta vẫn không thể phủ nhận sự nhiệt thành và lòng can đảm của họ trong việc giới thiệu Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài cho người khác. Họ sẵn sàng nói về Chúa ở bất cứ nơi đâu và nói say sưa, nói với tất cả xác tín. Còn người Công giáo thì sao? Trong nghi thức rửa tội, sau khi mời gọi người xin lãnh nhận Phép Rửa tuyên xưng đức tin, vị chủ sự kết thúc “Đó là đức tin của chúng ta, đó là đức tin của Hội Thánh. Chúng ta hãnh diện tuyên xưng đức tin đó trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.” Thế nhưng không biết người Công giáo có thực sự hãnh diện về đức tin của mình không? Có trang báo nào đó kể rằng trong một lớp học, khi giáo sư hỏi sinh viên nào là người Công giáo, chỉ có hai, ba cánh tay ngần ngại giơ lên đang khi có ít nhất là 10 sinh viên Công giáo trong lớp! Hình như mỗi lần ngồi ăn trong nhà hàng hay ngoài quán chợ, người Công giáo cũng cảm thấy ngại ngùng khi phải làm dấu Thánh Giá trước bữa ăn. Nghe những nhận xét đó, có người giáo dân phản ứng ngược lại: ngay cả các cha, khi ra ngoài đường, cũng không muốn cho người khác biết mình là linh mục công giáo nữa là! Mà đã không hãnh diện về niềm tin của mình thì còn nói gì đến chuyện giới thiệu cho người khác, có chăng cũng chỉ là nói theo bổn phận thôi.
Như thế, khi thay đổi lối nhìn, người Kitô hữu khám phá ra nhiều điều mình có thể và cần học hỏi từ người khác. Cùng với những bài học đó, chúng ta được nhắc nhớ về tầm quan trọng của việc dạy giáo lý. Theo các chuyên viên, hầu hết những người Công giáo rời bỏ Giáo hội để gia nhập phong trào Hiện Xuống là những người dân sống trong vùng nông thôn hoặc trong những khu ngoại ô nghèo. Và lý do sâu xa khiến họ rời bỏ Giáo hội là do thiếu hiểu biết về giáo lý. Thiếu hiểu biết về giáo lý nên dễ bị lung lạc trước những lời tố cáo Giáo hội không trung thành với Chúa Giêsu và Tin Mừng của Chúa. Do đó, Giáo hội Công giáo cần phải có nỗ lực mới trong việc giảng dạy giáo lý, đặc biệt là cho giới trẻ, để họ thực sự hiểu biết niềm tin của mình và vững vàng trước những tấn công của bất cứ ai. Theo Đức Hồng y Walter Kasper, để có thể làm công việc này cách hiệu quả, bước đầu tiên mà các Giáo hội địa phương phải quan tâm là đào tạo đội ngũ giảng viên giáo lý thật tốt, vì chính qua họ mà việc dạy giáo lý trong các giáo xứ và các cộng đoàn mới có thể đạt hiệu quả. Đây chính là công việc mục vụ cần được quan tâm đặc biệt trong Năm Đức Tin.

KẾT LUẬN
Phong trào Hiện Xuống là một thách đố lớn vì gây ra nhiều khó khăn cho đời sống Giáo hội. Nhưng cũng lại là cơ may vì không cho phép Giáo hội ngủ quên trong chiến thắng, đồng thời thúc bách Giáo hội đào sâu đức tin cũng như đổi mới cung cách làm mục vụ của mình. Vấn đề là làm sao biết vận dụng kairos (thời điểm) này và biến thách đố thành cơ may, thành lễ Hiện Xuống mới. Câu trả lời dĩ nhiên là của Chúa Thánh Thần nhưng cũng không loại trừ sự cộng tác của mỗi người và mọi người trong Giáo hội, cách riêng là các vị lãnh đạo cộng đoàn Dân Chúa.

 

PHONG TRÀO THÁNH LINH & HIỆN TƯỢNG CHỮA LÀNH TÉ NGÃ
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Trước đây tôi đã viết một vài bài về Phong Trào Thánh Linh và việc chữa lành với hiện tượng té ngã và nói ú ớ của một số người tham dự.
Sau loạt bài này, một vài độc giả đã hiểu lầm cho là tôi nói xấu Phong Trào Thánh Linh và Canh Tân Đặc Sủng nên đã gửi cho tôi những tài liệu hoặc bài viết của một số Hồng Y, Giám mục kể cả Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã khen ngợi hay khuyến khích các Phong trào trên.
Đây mới chính là sự hiểu lầm hay không hiểu đúng của các độc giả nói trên về nội dung các bài viết của tôi. Vì thế, tôi thấy cần phải nói lại một lần nữa những gì tôi đã viết về vần đề “chữa lành, té ngã” và Phong Thào Thánh Linh để độc giả khắp nơi được rõ thêm một lần nữa.

PHONG TRÀO THÁNH LINH VÀ CANH TÂN ĐẶC SỦNG
(SPIRITUAL RENEWAL MOVEMENT).
Đây là một Phong Trào có chủ đích rất tốt đã được Giáo quyền khuyến khích và khen ngượi. Đáng khuyến khích và ca ngợi vì Phong Trào đặt nặng việc cầu xin ơn Thánh Linh để canh tân không những đời sống cá nhân, đời sống cộng đoàn và mà cả đời sống của Giáo Hội nói chung nữa. Một mục đích tốt lành như thế thì ai dám hoài nghi hay phê phán được?
Nếu chúng ta đọc kỹ lịch sử Giáo Hội thì sẽ nhận rõ điều này: nếu không tin có Chúa Thánh Thần hoạt động âm thầm nhưng rất tích cực trong Giáo Hội thì Giáo Hội không thể có được bộ mặt thiêng liêng tốt đẹp như ngày nay. Đã có biết bao giai đoạn đen tối trong lịch sử Giáo Hội trong đó con thuyền của Thánh Phêrô đã nhiều phen bị chao đảo gần như đắm chìm xuống đáy đại dương vì những đợt sóng ngầm của tục hoá (secularism), của tham vọng quyền thế (kể cả tranh giành quyền thế trong nội bộ), vì lẫn lộn đạo với đời, vì những lầm lỗi của lãnh đạo thiếu khôn ngoan, thiếu sáng suốt, cũng như trước thách đố của bao tà thuyết nghịch đức tin Kitô giáo.
Chính vì vậy mà trong năm 2000, Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã hạ mình xin lỗi những ai mà Giáo Hội đã xúc phạm hay làm thiệt hại trong quá khứ. Tình trạng chia năm sẻ bảy trong Giáo Hội cho đến giờ này một phần cũng vì những lầm lỗi của Giáo Hội trong quá khứ. Nói thế không phải là “vạch áo cho người xem lưng” hay phủ nhận sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội. Nhưng phải nói ngược lại là chính những lầm lỗi đó của Giáo Hội đã chứng minh hùng hồn sự hiện diện và ơn thánh hóa lạ lùng của Chúa Thánh Thần.
Thật vậy, Giáo Hội là “nơi Chúa Cha muốn qui tụ những ai tin kính Chúa Kitô… được thành lập trong thời cuối cùng và được biểu hiện lúc Chúa Thánh Thần ngự xuống” (Lumen Gentium no. 2). Giáo Hội làThánh vì Chúa Kitô là Đầu. Nhưng những chi thể của Giáo Hội thì chưa là thánh, vì là những con người đầy yếu đuối, tội lỗi và bất xứng nhưng lại được chọn và sai đi . Chính vì bản chất yếu đuối cộng thêm ý chí tự do (freewill) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng, nên đã giúp giải thích lý do vì sao đã xảy ra những giai đoạn thăng trầm, những lầm lỗi của Giáo Hội trong quá khứ. Song chính vì có sự hiện diện và trợ giúp vô cùng hữu hiệu của Chúa Thánh Thần mà Giáo Hội đã được vực dậy khỏi những “yếu đuối con người” để đạt đến tình trạng hoàn hảo hơn như ngày nay. Hoàn hảo hơn là so sánh với quá khứ, chứ chưa phải là đã trọn hảo về mọi phương diện và trong mọi thành phần lớn nhỏ của Giáo Hội.
Tinh thần và gương sống khó nghèo của Chúa KItô vẫn bị chế nhạo bởi một số không nhỏ những tông đồ đang mê tiền của, vẫn chậy đôn đáo khắp nơi để kiếm đôla, bất kể liêm sỉ, chê cười. Thêm vào đó, lòng ham chuộng công danh, chức quyền, địa vị, lẫn lộn đạo với đời, làm tay sai cho thế quyền để trục lợi cá nhân, sao lãng việc bổn phận và nêu gương xấu… vẫn đang là những khối u (tumors) nguy hiểm trong cơ thể của Giáo Hội địa phương cần được giải phẫu và cứu chữa kịp thời, nếu không muốn trở thành ung thư, nguy tử.
Vì thế, nhu cầu canh tân và thánh hoá vẫn luôn luôn là đòi hỏi cấp bách không ngừng của Giáo Hội cho chính bản thân mình và cho con cái đang hiệp thông ở khắp mọi nơi.
Nói đến canh tân là nói đến ơn đổi mới của Chúa Thánh Thần, vì chỉ có Ngài mới có thể tạo ra những đổi mới, những chuyển biến sâu xa từ nội tâm con người mà thôi.
Chỉ cần đọc lại Sách Công Vụ Tông Đồ mô tả ngày Chúa Hiện Xuống thì ta sẽ thấy những “sự lạ lùng” Người đã làm nơi các Tông Đồ của Chúa Giêsu đang khiếp sợ đóng kín cửa nhà, không dám ra ngoài rao giảng Tin Mừng như Chúa đã truyền cho các ông trước ngày Ngài về Trời. Nhưng từ những người nhút nhát, u tối, các ông đã trở thành những người dũng mạnh, thông suốt, vì “ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần” (Cv 2:4). Họ đã tung cửa chậy ra ngoài đường phố, hùng hồn “loan báo những kỳ công của Thiên Chúa” cho dân chúng bằng những ngôn ngữ mà ai nghe cũng hiểu. Họ nói hăng say đến nỗi có những người đã chế nhạo rằng “mấy ông này say rượu rồi” (CV 2:13).
Đó là những sự lạ Chúa Thánh Thần đã làm nơi các Tông Đồ của Chúa Kitô trong Ngày Lễ Ngũ Tuần.

PHONG TRÀO THÁNH LINH CHỮA LÀNH VỚI HIỆN TƯỢNG TÉ NGÃ,
NGẤT SỈU, VÀ NÓI Ú Ớ.
Từ lâu, trong và ngoài Việt Nam, đặc biệt ở một số Cộng Đoàn Việt Nam ở Mỹ hiện nay, đã có một số linh mục thực hành việc “chữa lành” trong những buổi cầu xin ơn Thánh Linh. Cầu xin ơn Chúa Thánh Thần thì đó là việc quá tốt, rất đáng khuyến khích, không ai có thể phê phán gì được. Ngược lại, phải cổ võ cho nhiều người siêng năng chậy đến với Chúa Thánh Thần để được soi sáng, thêm sức mạnh hầu biết sống đức tin, đức cậy và đức mến cách chính xác, sâu sắc và đẹp lòng Chúa hơn.
Tuy nhiên, cầu xin rồi làm trò “ảo thuật” như lấy tay dí mạnh vào trán của những người đang đứng nhắm mắt giơ hai tay lên cao để cho họ té ngã ra sau (có nhân chứng đã tham dự kể lại) thì chắc chắn không phải là nghi thức “chữa lành” hay sức dầu (anointing) nào của Giáo Hội. Và hiện tượng té ngã và nói lảm nhảm, ú ớ của một số tham dự viên thì chắc chắn cũng không phải là dấu chỉ Chúa Thánh Thần đã đến thăm viếng ai trong những buổi chữa lành đó. Chắc chắn như vậy! Tôi thách đồ ai trưng ra được căn bản giáo lý, tín lý hay Kinh Thánh nào chứng minh những hiện tượng trên là do Chúa Thánh Linh gây ra.
Chỉ có bằng chứng Kinh Thánh Trong Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy là trong ngày lễ Ngũ Tuần, khi Chúa Thánh Thần lấy hình lưỡi lửa đậu xuống trên từng Tông Đồ đang tụ họp cầu nguyện trong nhà và “ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần” (Cv 2,4) nhưng không một ai bị té ngã, ngất sỉu và miệng lâm râm nói ú ớ những gì không ai hiểu được. Ngược lại, họ được ban cho ơn ngôn ngữ đặc biệt để “bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho” (Sđd, 2,4)
Các tiếng khác ở đây là các ngôn ngữ của các sắc dân “Pác-thi-a, Mê-đi-a, Ê-lam, Mê-xô-pô-ta-mia, Giuđê, Ca-pa-đô-kia, Pon-tô và A-xi-a, Phy-gi-a, Pam-phy-li-a, Ai Cập, Rôma… Thế mà các Tông đồ bỗng nhiên nói được các ngôn ngữ này khiến họ sửng sốt, thán phục hỏi nhau: “những người đang nói đó không phải là người Ga-li-lê cả ư? Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta?” (Sdd, 2, 7-8)
Đó là ơn nói tiếng lạ mà Chúa Thánh thần đã ban cho các Tông Đồ khi Ngài hiện xuống trên họ xưa kia. Tuyệt đối, không một ai đã bị xô ngã và nói lảm nhảm những gì không ai hiểu được như một số người té ngã và tin là “đã được ơn Thánh Linh trong những buổi cầu nguyện chữa lành” kia.
Nhưng nếu té ngã, ngất đi ít phút, nói lảm nhảm, rồi khi tỉnh dậy cảm nhận được điều gì mới lạ, nhận ra được hướng đi mới trong đời sống thiêng liêng của mình thì có thể coi đây là ơn đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Ngược lại, nếu không cảm nhận được điều gì hết mà chỉ có té ngã do tác động tâm sinh lý nào đó gây ra, thì có ích lợi gì về mặt thiêng liêng, hay tâm linh?
Chắc chắn Chúa Thánh Thần không bao giờ làm những việc vô lý, vô bổ cho ai. Cũng không bao giờ làm trò ảo thuật, xô ngã người này, không làm ngã người kia khiến họ thất vọng hoang mang ra về. Thực tế là không phải tất cả những ai tham dự “chữa lành” đều được té ngã và “nói tiếng lạ” (nói ú ớ không ai hiểu). Những người được té ngã thì tự cho là được ơn Thánh Linh, còn những người không ngã thì thất vọng vì nghĩ là không được ơn và không tin nữa. Đây là thực trạng của những ai đã và đang tham dự những buổi “cầu nguyện chữa lành” kia.
Cũng cần nói thêm là trên một vài kênh truyền hình Mỹ, cũng có những màn trình diễn “chữa lành” của một số “ảo thuật” truyền bá phúc âm (TV Evangelists). Họ sắp xếp cho vài người ngồi xe lăn trên sân khấu. Rồi “ảo thuật gia” chạy đến nói với họ : anh hãy nói to lên rằng ‘tôi tin Chúa Giêsu là Cứu Chúa và tôi được chữa lành’ (I believe in Jesus, my Savior and I am healed). Rồi ảo thuầt kia cầm tay kéo anh “tàng tật” ngồi xe lăn đứng lên, anh này đứng dậy và nhẩy tưng tưng, miệng la lên “I am healed! (Tôi được lành rồi) Allleluia! Alleluia!” Đây là trò ảo thuật rẻ tiền của một số tay thuyết giảng kinh thánh trên truyền hình và chắc chắn không lừa dối được ai.
Là tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo, chúng ta cần lưu ý điều quan trọng này: chữa lành (healing) cũng nằm trong Sứ Vụ (Ministry) rao giảng của Chúa Giêsu xưa kia. Kinh Thánh Tân Ước kể lại biết bao lần Chúa đã chữa cho người câm, người điếc, đui mù, què được lành, kể cả cho kẻ chết được sống lại. Nhưng chắc chắn đây không phải là mục đích chính của Chúa khi đến trong trần gian này. Chúa đến không phải để tiêu diệt sự đau khổ, mà ngược lại, đã dùng chính sự đau khổ để cứu con người khỏi chết và đau khổ đời đời qua khổ nạn thập giá của Ngài.
Như thế, đau khổ tinh thần và thể xác có giá trị cứu rỗi trong Chương Trình cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa thực hiện nhờ Chúa Kitô. Chúa Giêsu có chữa lành cho nhiều người, vì Ngài muốn tỏ uy quyền của mình là Thiên Chúa và cũng để tỏ lòng thương xót, thông cảm đối với những nạn nhân của bệnh tật, tai ương và nghèo đói để mời gọi chúng ta tiếp tay với Ngài thương giúp những anh chị em đồng loại xấu số, bệnh tật, nghèo đói ở khắp nơi trong xã hội ngày nay (x. Mt 25: dụ ngôn ngày phán sét chung).
Khi gặp gian nan, khốn khó, nhất là bệnh tật, tai ương thì chúng ta phải chạy đến cùng Chúa để xin cứu giúp ủi an. Điều này rất đẹp lòng Chúa vì nó nói lên sự trông cậy, tín thác của chúng ta nơi lòng thương xót vô biên của Ngài. Tuy nhiên, chúng ta phải sẵn lòng và vui lòng đón nhận thánh Ý Chúa trong những hoàn cảnh khó khăn này. Nghĩa là không nên bắt buộc Chúa phải làm phép lạ để đáp ứng ngay những đòi hỏi hay nhu cầu của mình mà phải phó thác cho sự khôn ngoan và lòng thương xót của Chúa, để tuỳ Người định liệu phần tốt cho ta.
Do đó, khi cầu xin ơn Thánh Linh thì phải tha thiết và thành tâm xin Chúa Ngôi Ba soi dẫn và giúp chúng ta luôn bước đi theo Chúa Kitô là “Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14:6) cũng như được an tâm vững mạnh trước mọi khó khăn thách đố.
Cầu nguyện với tâm tình này thì chắc chắc Chúa Thánh Thần sẽ không thể từ chối lắng nghe và ban nhiều ơn sủng của Ngài để giúp ta sống đức tin vững mạnh hơn. Hoa trái hay kết qủa của việc cầu xin này thì chắc chắn phải là bình an và phấn khởi trong tâm hồn chứ không thể chỉ là té ngã, ngất sỉu rồi nói lảm nhảm những gì chính mình và người khác không hiểu được. Những hiện tượng này, dù có xảy ra cho một số người tham dự các buổi “Thánh linh chữa lành” kia, nhưng chắc đã do một tác động tâm sinh lý nào nào đó mà người chủ sự đã khéo léo gây ra được, chứ chắc chắn Chúa Thánh Thần không làm việc này vì vô lý và vô nghĩa như đã nói ở trên.
Tóm lại, tôi hoàn toàn không tin hiện tượng “té ngã, nói ú ớ” là dấu chỉ của Chúa Thánh thần ban cho những người tham dự những buổi cầu xin Thánh Linh chữa lành do một số linh mục đang cổ võ và thực hành ở nhiều nơi hiện nay, nhằm mê hoặc những người dễ tin, muốn tìm gặp Chúa

Tác giả bài viết: Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Nguồn tin: WHĐ (28.02.2021) – Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 76 (Tháng 05 & 06 năm 2013)

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây