GIÁO XỨ CHÂU SƠN, DÒNG CHẢY 70 NĂM VÀ NỖI NIỀM MỘT NGƯỜI CON XA XỨ

Thứ ba - 26/05/2026 19:14
Chuyên mục 70 NĂM GIÁO XỨ xin giới thiệu bài viết của anh Trần Văn Hiền (Saigon)
GIÁO XỨ CHÂU SƠN, DÒNG CHẢY 70 NĂM VÀ NỖI NIỀM MỘT NGƯỜI CON XA XỨ


Giáo xứ Châu Sơn,
dòng
chy 70 năm và nỗi niềm một người con xa xứ

 

Đã không ít lần, khi còn sống, Mẹ tôi kể cho tôi nghe về cuộc sống bươn chải những tháng ngày đầu mới di cư vào Nam trước khi khăn gói lên Banmêthuột với mong muốn tìm về bến đỗ cuối cùng sau những tháng ngày lang bạt... Mẹ nói cho tôi biết tôi sinh ra ở Mường Mán - Phan Thiết, và chỉ mới được 4 – 5 tháng cha mẹ lại phải bồng bế hai đứa nhỏ, chị tôi và tôi, cùng đoàn người theo nhau lên Cao nguyên và dừng chân ở vùng đất thuộc Nguyện đường của Dòng Châu Sơn, nơi mảnh đất trù phú, nhưng còn rừng hoang sơ và nước độc : và làng Châu Sơn hiện nay hình thành từ ngày đó!.

 Dường như từ những năm đầu của thập niên chín mươi, tên tôi đã không còn trong danh sách thành viên của Giáo họ Giuse – Giáo xứ Châu Sơn, bởi một lý do thật đơn giản: vì mưu sinh và vì công ăn việc làm, tôi đã phải chấp nhận kiếp sống của kẻ tha phương.

Đối với tôi, Châu Sơn không phải là nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng tôi thuộc về thế hệ những đứa trẻ lớn lên và trưởng thành tại Châu sơn, cùng được chứng kiến sự hình thành và phát triển của Châu Sơn, nhờ bao công sức của những ân nhân thuộc thế hệ cha ông đầu tiên mở đường khai phá lập trại, mồ hôi nước mắt của cha mẹ và tất cả từ hai bàn tay trắng, trên mảnh đất đã được lựa chọn và kỳ vọng như là một “bến đỗ” cuối cùng sau biến cố 54, để mảnh đất Châu sơn nên hình nên dạng như ngày hôm nay. Và như một qui luật tất yếu theo dòng đời, mẹ cha và những tiền nhân thuộc thế hệ đó, đã lần lượt rời bỏ con cháu để về với tổ tiên.

Vậy là đã 70 năm, kể từ ngày Châu Sơn hình thành!!! Cuộc sống tuy xa quê, nhưng chưa một lần nào, tôi ăn tết xa nhà. Châu Sơn đã trở thành một phần nhỏ trong tôi, và “phần nhỏ” đó, dường như đang lớn lên từng ngày, bên cạnh không ít những băn khoăn lo lắng trước những đổi thay chóng mặt của quê nhà, điều mà tôi cảm nhận được khá rõ qua cái Tết những năm gần đây. Và tôi thử tìm cho mình một câu trả lời….

Tôi đã từng có dịp đặt chân đến các nước từ Châu Âu đến Châu Á, Châu Mỹ (thú thật tôi không còn nhớ chinh xác bao nhiêu nước tôi đã đi qua), được tận mắt ngắm nhìn, quan sát kỹ văn hóa nơi mình đi qua và cái “văn minh” hiện đại của xứ người…Thế nhưng, tôi có cảm giác những nét văn hoá gọi là “truyền thống lâu đời” của người dân bản địa thì mờ nhạt, bởi dù trong môi trường một làng quê hay một cộng đồng, quan trọng nhất đối với họ là sự tôn trọng “cuộc sống cá nhân” của mỗi người và mỗi gia đình, và tất cả đã được “chỉnh sửa” cho thích nghi với thời đại. Và tôi đã phải thú nhận rằng: Châu Sơn vẫn đáng yêu, đáng để cho tôi gắn bó. Châu Sơn vẫn còn đó những cảnh vật êm đềm và sự yên bình, cho dù xã hội bên ngoài đã biết bao đổi thay tận gốc rễ.

 

Những gì mắt thấy tai nghe…

Thế nhưng thực tế dường như quê nhà đang thay da đổi thịt, càng ngày càng rõ nét trong lòng người con xa xứ mỗi lần trở lại quê nhà, kéo theo một chút ưu tư lo lắng cho tương lai của thế hệ mới lớn; bởi còn thiếu, còn thừa một chút gì đó…!?

Thật vậy, Châu Sơn quê tôi những năm gần đây thay đổi quá nhiều, đường sá nhà cửa từng thôn xóm ngày nào đang bị bêtông hoá, đường sá nội thôn cũng như những cung đường kết nối với đất rẫy nhộn nhịp hơn với đủ các lọai xe hai bánh, 4 bánh đời mới hiện đại… những chiếc máy cày máy kéo ngày nào vắng dần hoặc biến mất; những cây xanh trong vườn nhà ít dần và có vẻ như cả nắng cũng nhiều hơn và oi bức hơn. Còn đâu những mảnh vườn nguyên vẹn phân theo “ô bàn cờ” ngày xưa với những căn nhà được bao bọc bởi vườn cây ăn trái nhỏ, các góc xóm ngày xưa giờ loang lỗ những khối nhà phố bê tông liền kề, có những mảnh vườn hơn một sào nhưng đã hình thành cả chục căn nhà như thế (xóm “Hòa Lan” đường G, xóm Ông Cựu Vịnh, xóm Ông bà Từ ngay bên dưới nhà thờ - vườn Cha Sinh ngày xưa..), v v… và xu thế này đang tiếp tục mở rộng…. Hỏi ra mới biết những gia đình mới đến “nhập xóm” là người ngoài phố, là dân từ Phú Yên lên, hoặc các nơi khác đến, và đa số không phải là công giáo… Họ sống khá hòa đồng, uống nước mới, qua lại với người trong xóm dịp vui buồn (cũng là điều dễ hiểu vì họ biết gia nhập nơi ở với môi trường mới, họ không thể sống khác đi); và họ bảo như thế là “gắn kết cộng đồng”.  Thế là khái niệm Giáo xứ Châu sơn “toàn tòng” đã không còn nữa, biết rằng điều đó một ngày nào rồi sẽ tới, và sẽ còn tiếp tục mở rộng, nhưng trong tâm khảm của giáo dân gốc Châu Sơn, nhất là với những thế hệ sống trước 75, không thể không có một chút chạnh lòng….

Không quá lời khi bảo rằng những năm gần đây, tìm đâu ra những nét văn hoá lâu đời của người Châu Sơn, một thứ kỷ niệm đặc biệt gắn bó với sinh mệnh và tình cảm của người dân quê tôi, từ lúc khăn gói dắt dìu nhau từ Mường Mán lên lập trại. Đó là truyền thống gói bánh chưng, bánh tét của mỗi gia đình trong những dịp Tết cổ truyền. Thật vậy, những năm trước đây, dù dư dả hay túng thiếu, dù bận rộn đến mấy, cứ đến 27 hoặc 28 Tết là các bếp lửa nấu bánh của mỗi gia đình lại sáng rực cả một góc vườn.  Những năm gần đây, phần lớn không còn gói nữa mà mua bánh bán sẵn. Mọi người có thể nhàn nhã hơn, nhưng tôi cảm thấy thoáng buồn, vì thiếu đi một điều gì đó rất thiêng liêng hình thành sẵn trong cuộc sống dân Châu sơn mình… cái bầu khí ngày Tết truyền thống đang dần biến mất. Tết đến rồi đi. Lặng lẽ quá! Còn đâu nữa hương vị ngày Tết từ quê nhà Nghệ An - Hà Tĩnh? Dù biết rằng, những ngày Tết đang kéo mỗi người về với thực tại và đối diện với một năm mới đang mở ra trước mắt với những hy vọng, những hứa hẹn…nhưng xen lẫn với những bất ổn, ngổn ngang của cuộc sống khiến tất cả xem đó như là một lựa chọn chẳng đặng đừng.

Tôi trăn trở với mối băn khoăn về một nếp sống, cách riêng nơi lớp trẻ, đang ngày một trở nên chụp giật, thực dụng, thiên hẳn về tiền bạc và những phương tiện vật chất, kéo theo tình trạng phát triển mất cân đối, khập khểnh giữa nhu cầu vật chất với sinh hoạt đạo đức và tâm linh, đang thâm nhập một cách sâu xa vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội của người giáo dân Châu sơn, đặc biệt lớp trẻ.

Có thể thấy sự “vật lộn” của nhiều bạn trẻ để tìm cho mình một niềm vui giải trí nào đó, sau những ngày làm lụng vất vả trên nương rẫy…Họ tụ tập để hát hò, lên mạng giải trí hay cà phê, và tệ hơn nữa là nhậu nhẹt bất kể lúc nào, bất cứ lý do gì và bất kể ở đâu...

Dường như chưa có những vũ trường, sòng bạc, chưa có các quán cà phê đèn mờ, buôn bán ma túy, giữa lòng mảnh đất thân thương này. Có thể xem đây là một trong những nét son trong bức tranh toàn cảnh của Châu sơn hiện nay. Nhưng ai dám chắc rằng sẽ mãi mãi không có khi mà một bộ phận không nhỏ trong giới trẻ đã rất quen với những thú vui giải trí mà họ coi là hợp thời, khi mà những điểm vui chơi đó nhan nhản khắp nơi và chỉ cách nhà 5, 7 phút chạy xe.

Những nỗ lực của các đời Cha xứ Châu Sơn và các bậc đàn anh trong việc tổ chức các hội đoàn, sinh hoạt tôn giáo và xã hội đã rất phong phú và đa dạng, nhưng dường như chưa đủ sức thu hút giới trẻ. Có thể nhận ra rằng: giới trẻ chẳng chịu ngồi yên khi mà chỉ cách nhà vài ba cây số, ngay tại thành phố, người ta đã tham gia mạnh mẽ vào lĩnh vực vui chơi giải trí, phát triển các cơ sở văn hóa, thể thao, tập trung mạnh vào mục tiêu quảng bá văn hóa truyền thống cho giới trẻ bằng những mỹ từ như định hướng xã hội. Một xu hướng tất yếu là khi kinh tế khá lên thì văn hóa cũng sẽ tìm cách để thích nghi. Tuy nhiên, những vùng nông thôn như Châu Sơn quê ta, không có thế mạnh đó và vẫn sẽ phải trông chờ một cuộc “cách mạng” nhằm định hướng lại lộ trình phát triển. Và cuộc “cách mạng” này nếu không được tiến hành bằng chính nội lực của Giáo xứ thì một sớm một chiều, Nhà nước hoặc các doanh nghiệp bên ngoài sẽ vào cuộc thực hiện.

 

… thử tìm hiểu lý do tại sao….

Tôi cho rằng cuộc khủng hoảng hiện nay trong giới trẻ tại xứ nhà không chỉ đơn thuần bắt nguồn từ lý do kinh tế, mà sâu xa hơn, khởi nguồn từ chính những lệch hướng của phát triển xã hội bên ngoài, chỉ nhắm vào các thành tích tăng trưởng kinh tế mà thiếu quan tâm đến những lãnh vực quan trọng hơn, đó là sự phát triển bền vững nhân bản con người và môi trường sống.

Trong tình hình đời sống tinh thần của xứ đạo nông thôn xứ nhà, vẫn được giới trẻ coi là tẻ nhạt, không biết những người đứng đầu có trách nhiệm có hiểu được rằng cần thiết phải định hướng lại lộ trình sống và phát triển của giới trẻ, để cuộc sống mang nhiều ý nghĩa hơn. Mô hình định hướng không cần nhiều đất đai, không cần những đồn điền cà phê cao su hoặc những trang trại bạt ngàn (vì với điều kiện địa lý và thổ nhưỡng hiện nay của Châu Sơn, điều đó là không tưởng), nhưng cần nhiều hơn những giá trị văn hoá, đạo đức nhân văn, nhân tài và chất xám. Cần phải tìm một đối trọng để giảm bớt tình trạng mất thăng bằng, mà những người có trách nhiệm về giáo dục đức tin hiện nay cần phải không thể bỏ qua.

Nhớ lại những năm trước 75, Châu Sơn đã là nơi hội tụ những tinh hoa về văn hóa, về trình độ học vấn, cũng như địa vị xã hội nổi trội hơn, so với những làng di cư khác cùng thời điểm lập trại như Trung Hoà, Đức Minh, Hà Lan. Thế nhưng giờ đã khác, thế hệ trẻ Châu Sơn đã tụt hậu về nhiều mặt so với họ, đặc biệt là về văn hóa cũng như khả năng thích nghi với hoàn cảnh xã hội, để có một chỗ đứng trong xã hội, hoặc ít nhất là để làm bàn đạp đi lên, nhưng không bị “tha hóa” hoặc đánh mất đi cội nguồn của mình.

Thành công của các xứ bạn, chắc chắn có sự đóng góp không nhỏ của cha mẹ, qua sự định hướng ngay từ đầu khi con cái họ chen chân vào xã hội. Không có những số liệu thống kê, nhưng một điều chắc chắn là con số tỷ lệ lớp trẻ - thuộc thế hệ sinh ra và lớn lên sau 75 của các giáo xứ khác, thành đạt cao hơn Châu Sơn rất nhiều.

Còn nhớ trong một bài huấn từ của Đức Cha Trịnh Chính Trực, cựu Cha Chính xứ Châu Sơn, nhân dịp chuẩn bị mừng kỷ niệm Ngân khánh Giáo xứ, khi đề cập đến những thành tựu đã đạt được của Giáo xứ sau 50 năm hình thành và phát triển, Ngài nhấn mạnh đến thước đo những thành tựu đó phải là “bao nhiêu kỹ sư, bác sĩ, Tiến sĩ, Thạc sĩ…chứ không phải là bao nhiêu anh Hai lúa”. Và nếu nhìn lại danh sách liệt kê những thành tựu đó trong Kỷ Yếu Kim khánh Giáo xứ Châu Sơn, Kỷ yếu 50 năm Trường Tiến Đức Châu Sơn, con số này thật khiêm tốn. Và theo tôi, hoàn toàn không có gì đáng để tự hào, nếu so với lợi thế sẵn có. Tôi được biết (có thể không chính xác), những thành quả đạt được từ 70 năm qua, chỉ vỏn vẹn duy nhất 1 Tiến sĩ, vài ba thạc sĩ. Điều đáng nói hơn, là thành quả đó đều thuộc thế hệ U 60, U 70 thậm chí là U80, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Châu Sơn từ những năm đầu mới lập trại. Vẫn biết rằng những mảnh bằng Tiến sĩ Thạc sĩ thời đó không giống như Tiến sĩ, Giáo sư, Phó Giáo sư…. ngày nay.

Thế hệ cha ông ta đã khởi nghiệp, lập xứ từ hai bàn tay trắng; những năm mà cuộc sống còn chưa thoát khỏi nghiệp cày cuốc, nguồn thu nhập của đại đa số vẫn chủ yếu là từ những gánh khoai từ, khoai vạc, lúa gạo, đậu…con cá, con tép, mẹ bắt ở ngoài đồng về. Thời điểm khó khăn mà cha mẹ chúng tôi phải thức dậy từ 2, 3 giờ sáng mỗi ngày, để mang ra chợ bán một mớ ổi, na hay một “đúa” rau lang… Không ít cha mẹ đã phải nhịn ăn đứt bữa cho con cái. Cuộc đời lam lũ và cái nghèo đã tạo cho cha mẹ chúng tôi thói quen ăn tiêu tằn tiện, chắt lót từng đồng tiền lẻ, để đầu tư cho con cái đi học.

Ký ức tuổi thơ đọng lại trong thế hệ U70, U80 chúng tôi, là hình ảnh từng đoàn người lớp lớp – lớp đàn anh, cha ông Châu Sơn thời đó, mỗi sáng sớm hoặc chiều về, gồng gánh, cuốc cày trên vai, nối đuôi nhau trên những con đường đất lầy lội. Quên sao được hình ảnh chiếc xe Lam ba bánh của ông Trọng (Thụ), xe Daihatsu bốn bánh của ông cố Nho, xe lam 3 bánh của Ông Cầm….. với tiếng máy nổ long tai nhức óc như để hiệp sức cùng tiếng chuông nhà thờ đánh thức mọi người, chạy dọc theo từng con đường đất mỗi sáng sớm để đón người đi chợ, hai bên xe treo lủng lẳng những thúng khoai từ, khoai lang, rú hết ga mỗi lần leo dốc “Lộc phát” hoặc dốc “Ông Tuệ”, thậm chí kéo nhau xuống hì hục đẩy mỗi khi trời mưa trơn trượt… , hoặc hình ảnh vài ba thế hệ thời chúng tôi, chen chúc nhau trong những căn chòi lợp tranh vách phên, không điện, không nước, những căn nhà liêu xiêu, trống huơ trống hoác, chân trần rảo bước trên những con đường lầy lội quanh năm để đến trường mỗi ngày. Không dễ quên những địa danh như Ràn Bò, Rú Le, Buôn Thả, Ma Ngạc, Buôn Ky…., rồi sau 75, những Cầu 1, Cầu 2, Cầu 3, v v…

Thế hệ chúng tôi đã không có được những điều kiện học hành thuận lợi như ngày hôm nay: gần như tất cả đều đi bộ, phương tiện đi học đối với những gia đình khá giả nhất cũng chỉ là chiếc xe đạp cọc cạch, hàng ngày oằn lưng trên những con đường đất gồ ghề, bụi mù vào mùa nắng và lầy lội trong suốt những tháng mưa. Và không chỉ là đi học, vì một buổi còn lại phải đi chăn bò, ra rẫy cuốc đất cùng với cha mẹ, khuôn mặt sạm nắng, nhễ nhại mồ hôi, còi cọc sống nhoi lên giữa bộn bề vất vả. Không ít trong chúng tôi chẳng dễ dàng quên được hình ảnh bữa cơm hàng ngày thuở ấy, bên chiếc đèn dầu leo lét là những bát cơm tấm pha loãng trong nồi nước, những bữa cháo rau lang xanh lét, mặn đắng cả những giọt nước mắt mẹ hòa vào nồi cháo đang sôi lủng bủng, con cái đứa này nhìn đứa kia mà héo hắt cả lòng, nghẹn ngào đến tận cổ.

Tuổi thơ của chúng tôi lớn lên trong sự thiếu thốn cùng cực, cả về vật chất lẫn tinh thần. Thế nhưng, một số không nhỏ thuộc thế hệ đó đã biết tự vươn lên bằng chính nỗ lực của bản thân cùng với sự định hướng động viên của cha mẹ. Cha mẹ chúng tôi quan niệm không có của cải, thì ráng cho con đi học để cuộc sống chúng nó đỡ vất vả hơn mình. Chúng tôi không dám trách: sao nhà mình nghèo thế!?

 

…. và thử tìm câu trả lời….

Sẽ là một thiếu sót khó chấp nhận được khi nhìn lại những thành quả tinh thần đạt được từ 70 năm qua mà không nhắc tới những đóng góp của thế hệ Thầy Cô và ngôi trường Tiến Đức, nơi mà có lẽ phần lớn lớp trẻ Giáo xứ Châu Sơn chẳng biết tới hoặc không hình dung được Tiến Đức là gì và đã đóng góp gì cho các thế hệ đàn anh đi trước; nhưng với thế hệ đàn anh U 70, U 80 thì không!!!

Ngôi làng Châu sơn vẫn còn đó, sân trường vẫn còn đây với biết bao đổi thay, nhưng trong ký ức của mỗi chúng ta vẫn còn ít nhiều hình dung ra được nét ban sơ của những gì còn sót lại của ngôi trường Tiến Đức năm nào trong khuôn viên Nhà Thờ Giáo xứ hiện tại, những “chứng tích” sống động đã kết thành từ bao mồ hôi và công sức của các thế hệ cha ông để xây dựng nên Giáo xứ thân thương này, trong đó có cái nôi văn hóa “Tiến Đức” vì “sự nghiệp trăm năm trồng người”, những thành quả của nó đã được điểm tô tạo nên những nét son chói sáng của Giáo xứ nhà trong thập niên đầu của thế kỷ 21 này. Công đức của các Thầy Cô giáo là một gia sản quí giá mà thế hệ chúng ta phải trân trọng và ghi nhớ.

70 năm Châu Sơn… tại sao không là dịp nhắc nhở chúng ta tri ân và tưởng nhớ các Thầy Cô kính yêu là những ân nhân đã một đời hy sinh để trang bị cho thế hệ con cháu là chúng ta những hành trang cần thiết bước vào đời, mà còn như một lời nhắn nhủ mỗi chúng ta làm tròn nhiệm vụ của bậc làm cha làm mẹ trong giáo dục con cái, chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần cho con cháu để phần nào đáp lại những hy sinh của các Thầy Cô và những bậc tiền nhân??

Những nỗi niềm, thao thức không chỉ gói gọn ở những ký ức tuổi thơ ấu còn đọng lại, những kỷ niệm buồn vui gắn bó với những năm tháng cắp sách đến trường mỗi ngày như một phần nhỏ trong cuộc đời của mỗi người, những hình ảnh gợi nhớ về các thấy cô đã hy sinh một phần của đời mình cho thế hệ con cháu (mà phần lớn đã lần lượt rời bỏ con cháu để về với tiên tổ), mà còn là những ưu tư về thân phận của mỗi chúng ta trong cuộc sống bon chen và chụp giật hiện nay, những ưu tư lo lắng cho tương lai của thế hệ đàn em, con cháu chúng ta đang chao đảo trong môi trường sống ngày càng trở nên thực dụng, thiên hẳn về tiền bạc và những phương tiện vật chất hiện nay mà một số không nhỏ đã dường như đánh mất dần cội nguồn của mình. 

Gợi nhớ về cội nguồn và “điểm xuất phát” của những tinh hoa về văn hóa, về trình độ học vấn của những thế hệ trẻ đầu tiên của Châu Sơn những năm cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60, sẽ hoàn toàn đi vào quên lãng trong tâm thức thế hệ con cháu chúng ta, một khi lớp đàn anh hoặc cha ông của chúng không còn hoặc chẳng còn ai nhắc đến. Không cách điệu, nhưng có lẽ các bạn ít nhiều cũng đồng ý với tôi về suy nghĩ trên”.của mình cho thế hệ con cháu chúng ta, không nhằm mục đích đưa ra những chuẩn mực giáo dục, nhưng là bàn đạp để đặt ra cho mình một mục tiêu cũng như định hướng tương lai trong giáo dục thế hệ con em chúng ta : dĩ nhiên ta cũng không coi đó như là một trong những cách thế để giải quyết những hệ lụy, nhưng sẽ không quá lời khi coi đó như là một trong những giải pháp căn cơ cho vấn đề? Những Albert Einstein, Bill Gates, Đức Gioan Phaolô II… và ngay cả Đoàn Nguyên Đức Hoàng Anh Gia Lai…. không chút ngần ngại khi nói về quá khứ và “điểm xuất phát” của mình.

Như một qui luật muôn đời của cuộc sống, dòng đời cứ hững hờ trôi, lặng lờ như vô cảm, bất chấp những đổi thay của cảnh vật chung quanh và của cuộc sống mỗi chúng ta. Tưởng sẽ không thừa thải khi nhắc lại một vài cột mốc thời gian liên quan tới Trường Tiến đức :

Theo những tài liệu hiện có cũng như trong ký ức của thế hệ đàn anh cùng những người tham gia vào việc lập trại cách nay 70 năm,

  • Hai lớp học đầu tiên của trường Tiểu học Tiến Đức ngày nào được dựng nên trên nền đất của dòng Châu Sơn năm 1956, nay là vườn của nhà Ông Bà Nguyễn Văn Lan (Thôn 3) thời LM Nguyễn Đăng Khoa, với vỏn vẹn 4 lớp (lớp Vỡ lòng, lớp Năm, lớp Tư và lớp Ba);
  • Năm 1957, thời LM Nguyễn Văn Bân (lúc đó là LM Phó xứ), trường được dời qua vị trí hiện nay là hoa viên tượng Thánh Gioan, với 5 lớp, bổ sung thêm lớp Nhì; 
  • Năm 1958, trường được dời ra khu vực nhà thờ xứ, với 2 dãy nhà lợp tôn vách ván, nền xi măng một dãy nằm dọc theo đường ngang giáp nhà ông bà Trần Văn Đông và nhà ông bà Trần Đức Kỳ hiện nay, một dãy nằm dọc theo đường ngang giáp nhà ông bà Trần Văn Lương và nhà ông bà Ngô Sinh Hữu hiện nay, bổ sung thêm Lớp Nhất cho đủ chương trình Tiểu học. 
  • Và sự nghiệp giáo dục của Trường Tiến Đức cứ thế mà phát triển qua các đời LM Quản xứ như sau :
  • LM Gioan Baotixita Nguyễn Đăng Khoa (1956 – 1957) : LM Quản xứ, ngài được xem là người đặt nền móng đầu tiên cho sự nghiệp giáo dục của quê nhà Châu Sơn. Chỉ vài tháng sau khi ổn định tạm cư, Ngài đã đôn đốc việc dựng lên 2 mái nhà tranh vách phên và qui tụ những con em đầu tiên đến lớp học tập.
  • LM Phêrô Nguyễn Văn Bân (1957 – 1959 - 1970) : trong vai trò LM Phó xứ, Ngài đảm nhận vai trò Hiệu trưởng của trường Tiến Đức. Năm 1959, Ngài rời Giáo xứ Châu Sơn nhận nhiệm sở mới, nhưng vẫn giữ vai trò Hiệu trưởng của Trường cho đến thời LM Lê Hùng Tâm về làm Quản xứ Châu Sơn (1970). Ngài đặc biệt quan tâm đến việc con em học sinh có được những phương tiện học hành và học cụ bằng những nguồn trợ cấp khác nhau.
  • LM Gioan Baotixita Nguyễn Trí Thức (1959) : Là Linh Mục quản xứ chỉ một thời gian ngắn, nhưng Ngài để lại dấu ấn về việc áp đặt một nền giáo dục thiên về giáo dục nhân bản với phương châm “Tiên học lễ hậu học văn”,
  • LM Giuse Trịnh Chính Trực (1960 – 1966) : dấu ấn Ngài để lại trước hết là một nền giáo dục chú trọng đặc biệt đến phát triển trí dục, đức dục kèm với thể dục. Đây là khoảng thời gian con em Trường Tiến Đức thời đó có được những nguồn trợ cấp thực phẩm đặc biệt như bơ, sữa bột, bột mì, bột ngô… sách giáo khoa phục vụ cho đời sống và việc học của các em. Cuộc sống ngày càng ổn định hơn, con em ngày một nhiều hơn, Ngài cho xây thêm trường Mẫu giáo. Dấu ấn thứ hai Ngài để lại chính là một tầm nhìn chiến lược về phát triển kinh tế cho Chậu Sơn: dân số phát triển, đất đai một lúc nào đó rồi sẽ không còn, tại sao không mở rộng ra những khu vực khác hiện chưa có ai ngó ngàng đến, để sau này thế hệ con cháu tương lai có đất làm mùa và phát triển ? Việc xây dựng tượng đài Chúa Kitô trên “Núi Chúa” với tham vọng có thể án ngữ luôn cả khu vực đồng bằng 700 mẫu màu xanh ngút ngàn phía sau núi Chúa là một minh chứng cho tầm nhìn chiến lược này. Chiến tranh và thời cuộc lúc đó đã không cho Ngài thời gian và sức lực để thực hiện tham vọng đó. Sau này, với trách nhiệm mới trong cương vị Giám Mục Giáo phận cho đến năm Ngài nghỉ hưu, dấu ấn của một vị Chủ chăn biết lo lắng cho tương lai của thế hệ con cháu của Giáo xứ càng đậm nét hơn qua những lần viếng thăm mục vụ; quên sao được trong dịp kỷ niệm 50 năm Giáo xứ Châu Sơn hình thành và phát triển, khi đề cập đến những thành tựu đã đạt được của Giáo xứ, Ngài nhấn mạnh đâu là thước đo những thành tựu đó….
  • LM Gregôriô Đỗ Trúc Đường (1966 – 1969) : điểm nổi bật nơi Ngài là sự lưu tâm đến giáo dục nhân bản, lễ nghĩa và đạo đức.
  • LM Phêrô Lê Hùng Tâm (1969 – 1975) : là một LM Tuyên úy Công giáo, Ngài áp dụng những thành quả đạt được từ những kinh nghiệm giáo dục trong thời gian Ngài phục vụ ở trường Trung Học Hưng Đức. Ngài bắt đầu thực hiện “cải tổ giáo dục” bằng việc gửi các giáo viên đi học bồi dưỡng các khóa sư phạm và trao đổi kinh nghiệm đào tạo với các trường. Năm 1969, Ngài bắt đầu chuyển hướng tầm nhìn phát triển giáo dục con em xứ nhà bằng việc xây dựng Trường Trung Tiểu học Tiến Đức, huy động và giúp đào tạo được một lực lượng giáo viên hùng hậu, trẻ trung và đầy nhiệt huyết.

Và dĩ nhiên, sau biến cố 75, Trường Tiến Đức chấm dứt hành trình…. và không còn đồng hành cùng Giáo xứ Châu Sơn trong dòng chảy.
 

Tôi không nhớ hoặc không biết nhiều về những lớp Tiến đức trước (vì các lớp trên vẫn nhắc tới những thế hệ các Thầy như Thầy Tuyên, Thầy Chương, Thầy Uy, Thầy Thành, Thầy Tiến, v v…), ngoại trừ chút ít về lớp 3 – 27 với rất nhiều chi tiết thú vị trong tập Kỷ yếu 50 năm hình thành và phát triển trường Tiến đức, với tựa đề “Ngày ấy nắng còn thơ dại. 1959 - 2009” anh Kính (Kính Quỳnh) chuyển cho tôi, nhưng lớp chúng tôi, Tiến Đức 1961 – 1966, thì nhớ rất rõ vì lớp vẫn giữ được truyền thống họp mặt mỗi dịp Tết; những buổi họp mắt bắt đầu bằng những giây phút, lời kinh tưởng nhớ các Thầy Cô và bạn bè cùng lớp đã khuất…
 

1
 
2
Lớp Tiến Đức năm 1964……
3
… và cũng đa số những khuôn mặt đó 50 năm sau – năm 2010.

         

  • Lớp Tiến Đức 1961 – 1966 chúng tôi trải qua 06 năm Tiểu học, từ những năm đầu lớp Mẫu giáo cho đến lớp Nhất đã được dẫn dắt bởi các Thầy Cô :
  • Niên khóa 1961 – 1962 : Lớp Mẫu Giáo / Vỡ Lòng: Cô Trần Thị Thư;
  • Niên khóa 1962 – 1963 : Lớp Năm : Cô Phạm Thị Nguyệt (Cô Tân);
  • Niên khóa 1963 – 1964 : Lớp Tư : Thầy Trần Duy Duyệt;
  • Niên khóa 1964 – 1965 : Lớp Ba : Thầy Nguyễn Đình Thái;
  • Niên khóa 1965 – 1966 : Lớp Nhì : Thầy Lưu Vĩnh Chấp;
  • Niên khóa 1966 – 1967 : Lớp Nhất : Thầy Lưu Vĩnh Chấp và Cô Cao Thị Lục
 
4
Thầy Trần Duy Duyệt, Thầy Giuse Nguyễn-Đình Thái  (1928 – 30 / 11 / 2005)
5
Thầy Giuse Nguyễn-Đình Thái

 

6
Thầy Giuse Lưu Vĩnh Chấp (1928 – 1977)
 
7
Cô Phạm Minh Nguyệt (Cô Tân)

    

8
Cô Nguyễn Thị Minh Thư
 
9
Cô Cao Thị Lục

     

…. và dường như đó mới chỉ là một phần nhỏ của câu trả lời!!

Mong rằng là con dân Châu sơn, dù ở góc trời nào, dù vô tình đến mấy, Giáo xứ, trong đó có cả trường Tiến Đức, vẫn mãi là một phần của cuộc sống trong mỗi chúng ta, bởi lẽ Châu sơn cùng với ngôi trường đánh dấu những kỷ niệm về một tuổi thơ dấu yêu nơi ta lớn lên với những năm tháng dùi mài kinh sử, nơi ươm trồng những ước mơ của tuổi học trò, nơi các Cha xứ và các Thầy cô đã vun trồng và giúp mỗi chúng ta hình thành nhân cách, trang bị cho mình những đôi cánh chim bay, những kiến thức và những gói hành trang vào đời.

Quê nhà Châu Sơn rồi đây sẽ thành khu đô thị, ranh giới địa lý đã và đang mất dần. Có còn nữa chăng, một xứ đạo “toàn tòng”? Cảnh “giá đất lên, tình người xuống”, như một vết mực buồn lem luốc trên bức tranh tình người Châu sơn trong xu thế đô thị hóa hiện nay!

70 năm Châu Sơn hình thành và phát triển, đối với những người hoài cổ hoặc những người tha phương như tôi, những đổi thay đó có thể tạo nên một chút nối tiếc, ngậm ngùi cho tuổi thơ đã qua đi và những kỷ niệm dấu yêu dần đi vào quên lãng, nhưng với nguời thực dụng thì chắc họ sẽ bảo “Gặp thời thế, thế thời phải thế”. Ai cũng có cái lý của họ!!!!.

 

 

Người xa xứ

Viết nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Giáo xứ Châu Sơn

 

Tác giả bài viết: Trần Văn Hiền

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây