ĐỌC “KINH CẦU MÙA” CỦA ĐÌNH BẢNG
- Thứ hai - 28/09/2026 05:49
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Thơ là gió / thổi ngược chiều / lồng lộng
Quyên Di đọc “Kinh Cầu Mùa” của Đình Bảng
Có người nói: thơ không phải để hiểu, mà để cảm.
Vì thế, lẽ ra không nên định nghĩa thơ là gì. Tuy nhiên nếu bị gặng hỏi “thơ là gì,” có người (lại có người) đành định nghĩa rằng: “Thơ là ý tưởng và tình cảm lắng đọng trong hình ảnh và ngân vang trong nhạc điệu.” Nghe cũng có lý, nhưng định nghĩa này xem ra có tính chất “văn” hơn là “thơ.”
Thế là tôi bị vướng vào cái suy nghĩ “thơ là gì?” Cho đến hôm nay, đọc “Kinh Cầu Mùa” của Đình Bảng, tôi vỡ ra được cái định nghĩa về thơ. Đình Bảng viết:
Tiếng đàn buông, như giọt nắng tinh mơ
Nhuốm hơi thở dạt dào từ cuộc sống
Thơ là gió thổi ngược chiều, lồng lộng
Từ tuổi thơ Em, rơm rạ, cánh đồng
Từ cánh chuồn bay bãi cói ven sông
Nghe gió thở trong bờ rào tre trúc.
(Nơi Cánh Đồng Bãi Cói)
A, hoá ra thơ tiếng đàn, là giọt nắng, là hơi thở, là gió, là tuổi thơ Em, là rơm rạ, là cánh đồng, là cánh chuồn, là bãi cói ven sông, là bờ rào tre trúc… Thơ là người, là vật, là cảnh quanh ta, thơ là cuộc sống bình thường của con người. Thi nhân là con người cũng giống như bao người khác, nhưng y, hay y thị, nhìn thấy, cảm được cái chất “thơ” trong cuộc sống đời thường và có khả năng diễn tả nó ra. Tôi có bổn phận cám ơn Đình Bảng vì nhờ “Kinh Cầu Mùa” mà vỡ ra được cái định nghĩa rất thơ về thơ.
Nghe thì êm đềm, dễ dàng như thế, nhưng thật sự để có vần thơ đẹp, câu thơ hay, bài thơ dạt dào ý vị, nhà thơ phải khổ công vắt óc và trái tim phải thổn thức vô cùng. Đình Bảng thổ lộ rằng:
Để là thơ có hồn cốt, tâm linh
Phải đổ hết máu mình vào câu chữ
Từ gan ruột đến hình hài, máu mủ
Tiếng nấc nghẹn ngào của những vết thương
Thơ là lệ trào sông suối, rẫy nương
Cái tinh tuyết ở trong mầm hoang dại.
(Khi Liễu Nhạt Tình Phai)
Xin người đọc đừng tìm trong bài viết này những lập luận hùng hồn hay một bài văn khúc chiết, bố cục rõ ràng. Bởi, người viết đang “cảm” thơ chứ không “phân tích” thi phẩm. Tìm như thế là hoài công vô ích, vì nãy giờ đã thấy bài viết nói gì về nội dung thi tập “Kinh Cầu Mùa” đâu!
Nói vậy nhưng cũng xin vào đề.
Ba tiếng “Kinh Cầu Mùa” có thể lạ tai đối với nhiều người đọc. Theo niên lịch Công Giáo, có 5 mùa chính: Mùa Vọng (chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh,) Mùa Giáng Sinh, Mùa Chay và Tuần Thánh, còn gọi là Mùa Thương Khó (chuẩn bị đón lễ Phục Sinh,) Mùa Phục Sinh và Mùa Thường Niên (xen kẽ giữa các mùa kia, với hai giai đoạn.)
Người Công Giáo lại thường lần tràng hạt Mân Côi , suy gẫm theo 4 mùa: Mùa Vui, Mùa Mùa Sáng, Mùa Thương, Mùa Mừng.
Mỗi mùa, theo niên lịch phụng vụ cũng như theo Kinh Mân Côi, người Công Giáo có những kinh, những lời cầu nguyện hợp với những “Mùa” ấy.
Đọc Kinh Cầu Mùa của Đình Bảng, tôi có cảm tưởng nhà thơ thường dâng kinh cầu Mùa Thương Khó (tức Mùa Chay và Tuần Thánh, suy niệm về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại) cũng như dâng kinh cầu mùa Thương theo kinh Mân Côi. Tôi nghĩ bạn đọc, khi đọc hết thi tập “Kinh Cầu Mùa” này cũng có cảm tưởng giông giống như vậy.
Khác với nhiều nhà thơ, nhà văn khác, thường nói hay nói tốt về bản thân, Đình Bảng bộc bạch mình là đứa con côi cút, nghèo khó, lạc thời lỡ vận, yếu hèn, tội lỗi, xin được Chúa tha thứ và cứu vớt. Có nhiều câu thơ nghe đến tội nghiệp (tội nghiệp như kiếp nhân sinh):
“Lạy Chúa Trời, tôi, cái kiến con sâu
Trong nước nổi, giữa mịt mù ve vắt.”
(Bốn Bề Quạnh Hiu)
Chúa biết con, mồ côi cha lẫn mẹ
Cơm cháo qua ngày, đứa trẻ sinh non
Tựa cây ô liu chưa kịp trổ bông
Những chìm nổi và trái ngang cuộc sống
Để con lớn lên giữa hoa và mộng
Bờ tre nghiêng, vạt lúa chín trên đồng
Từ lượng hải hà của Chúa cho không
Ngày hai bữa, dù đói no độ nhật.
(Một Khúc Tang Bồng)
Con, tay không, chẳng có gì
Nhỏ nhoi, hạt cát li ti giữa vời
Nhẹ tênh, một cụm mây trôi
Mong manh như sợi tơ trời long hong…
(Tơ Trời Hạt Cát)
Đình Bảng, với Chúa và Đức Mẹ, là đứa-con-thơ. “Đứa-con-thơ” này được hiểu theo cả hai nghĩa: là đứa con thơ dại, chỉ biết trông cậy vào Chúa và nhờ Đức Mẹ cầu thay nguyện giúp. Đồng thời “đứa-con-thơ” này là đứa con dâng lời kinh nguyện bằng thơ, hít vào ơn Chúa và thở ra bằng thơ. Với Đình Bảng, cuộc sống, lời kinh và hơi thở hoà nhập thành một, và thành thơ.
Đã có lần tôi cùng hai vị linh mục khả kính Phạm Văn Tuệ và Trần Cao Tường luận với nhau về “nhà văn nhà thơ có đạo Công Giáo” và “nhà văn nhà thơ Công Giáo.” Hai loại nhà văn nhà thơ này rất khác nhau. Nói cụ thể, không phải cứ trong văn trong thơ có xóm đạo, có tháp chuông nhà thờ, có linh mục, nữ tu, có lễ Giáng Sinh lễ Phục Sinh… thì tác giả là nhà văn nhà thơ Công Giáo. Không! Cái anh nhà văn nhà thơ Công Giáo khác. Đọc văn, thơ của anh ta, người ta cảm nhận được tinh thần Công Giáo, đời sống người Công Giáo, tâm tình và niềm tin Công Giáo… cho dùng trong văn, thơ của anh ta không có tháp chuông mà cũng chẳng có lễ Giáng Sinh.
Đọc thơ Đình Bảng nói chung, và “Kinh Cầu Mùa” nói riêng, người đọc thấy ngay tác giả “có đạo Công Giáo.” Không có đạo Công Giáo, không thể dùng một cách rất tự nhiên, nhuần nhuyễn những từ ngữ dấu đinh, cỏ lùng, bí tích, áo nhặm, lòng động lòng lo, miền đất Sion, Lễ Vượt Qua, Đêm Vườn Dầu, Đức Mẹ Ban Ơn…
Nhưng không chỉ có thế, Đình Bảng nhà một “nhà thơ Công Giáo” khi trong thơ của mình, tác giả viết về những sự việc, dụ ngôn trong Thánh Kinh và liên hệ một cách tự nhiên với cuộc sống Công Giáo của chính mình như một nhân chứng sống động của đời sống người Công Giáo. Những chuyện như “vào Nước Trời phải đi qua cửa hẹp”; “người giàu có vào Nước Trời khó như lạc đà chui qua lỗ kinh”; “người phụ nữ đánh rơi đồng tiền, đốt đèn lên tìm kiếm cho đến khi tìm được”; “mười cô trinh nữ mang dầu đèn đón chàng rể”; “ở lại với chúng tôi vì chiều đã muộn”… được tác giả nhắc một cách thoáng qua, rồi sau đó liên hệ ngay với cuộc sống của chính mình:
Vào cõi phúc, phải len qua cửa hẹp
Như lạc đà kia chui qua lỗ kim
Của đánh rơi, phải ra sức kiếm tìm
Như cây vả được ương trồng, phân bón
Xin nhận chút lòng thành tôi, lễ mọn
Giải thoát tôi khỏi vũng tối, lầm than
Đừng để tôi ra hư mất, nát tan
Núi cao thế? Làm sao tôi leo tới?
(Có Những Lúc Chênh Chao)
Ở lại với con, chiều đã muộn
Đường xa thăm thẳm, dấu yêu ơi
Lý trình muôn nẻo, đôi chân mỏi
Con bước đi, bước một, rã rời
Ở lại cùng con, ngày đã xế
Trống thu không buồn. Mõ trâu về
Hỏi lòng tan tác, khôn hàn gắn
Vỡ vụn ra trăm mảnh não nề
(Ở Lại Với Con, Chiều Đã Muộn)
Đình Bảng cũng tự thú có những lúc mình nghi ngờ ngay đức tin của mình, tình trạng mà Mẹ Teresa Calcutta gọi là “đêm tối của đức tin”:
Có lúc chênh chao, ngả nghiêng, ngờ vực
Hỏi vu vơ, chắc gì rỗi linh hồn
Mình lạc đàn, về từ đất Sion
Không ruột thịt, bà con cùng các thánh.
(Có Những Lúc Chênh Chao)
Có một điều rất lạ là dù có niềm tin thiết thạch của người Công Giáo, Đình Bảnh nhắc tới trong “Kinh Cầu Mùa” những ý niệm lớn của Phật Giáo một cách vừa tự nhiên vừa thành kính: hoá sinh trụ diệt, giọt nước cành dương, trùng trùng duyên khởi, giới hạnh, vô ưu, thị nghiệp, vô minh, vô ngã, vô thường… Cho hay, tâm hồn thơ thì mênh mông, còn đức tin không phải là hàng rào ngăn cách.
Là người Công Giáo chân chính, Đình Bảng cũng là con người Việt Nam rất Việt Nam. Dù ở quê nhà hay nơi hải ngoại, lúc nào Đình Bảng cũng nhắc đến Việt Nam bằng những hình ảnh rất đẹp với những từ ngữ rất bình thường mà vô cùng trang trọng và gợi cảm. Đang ở Nam California mà Đình Bảng nhớ đến Sài Gòn, Cái Mơn, Huế, Ban Mê Thuột, Phan Rang, Đà Lạt:
Dõi xa xăm, xem có thấy Sài gòn
Có thấy thuyền bè, hoa trái Cái Mơn
Và Huế, Ban Mê, Phan Rang, Đà Lạt…
(Tháng Giêng, Về Long Beach)
Một lúc khác, Xuân ở một miền quê khác, Đình Bảng nhớ quê mình vô cùng thê thiết:
Có loài hoa nào, lạ đời, xuyên tuyết
Như kẻ tha hương, chạnh nhớ, thèm về
Cái ổ rơm, bờ duối dại, đường đê
Và hết thảy những gì đang tàn lụi
Nhớ nồi nước xông, vỏ bòng, vỏ bưởi
Bếp liu riu, bồng gạch đỏ riêu cua
Quê hương ơi,trong ngọn gió đầu mùa
Nắm lá thuốc, mẹ xao vàng, hạ thổ
Bờ tường mảnh chai, mảnh sành, vôi vữa
Mồ hôi cha thấm bộ ghế chân quỳ
Tha hương hề, ai là bạn cố tri
Nghêu ngao hát bản tình ca yêu dấu
Cánh quýt, cánh cam lưng chừng hàng giậu
Vợ chồng sáo nâu trên nóc nhà thờ
Cả một bức tranh nhoà nhạt, trong mơ
Quanh quẩn mãi, tai trời hay ách nước?
(Xuân Ở Một Miền Quê Khác)
Khi tìm hiểu các nhà thơ thời cận đại như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… người ta khám phá ra xu hương “ưu thời mẫn thế” trong thơ. Xét về khía cạnh ấy, Đình Bảng cũng thuộc khuynh hướng “ưu thời mẫn thế.” Tập thơ có tới bốn, năm bài thơ viết về “mùa Covid” với kẻ đói ăn trong vòng dây vây hãm, người chết như rạ, chết bất ngờ, chết thảng thốt, chết đau thương:
Sài gòn ôi, đâu đất lành chim đậu
Ba trăm năm dâu biển chỉ một lần
Có bao giờ?
Em rách áo, đói ăn?
Chờ chết giữa ba bốn tầng vây hãm?
Đêm giới nghiêm.
Ngày núp trong vòng cấm
Xác chết ươn thiêu tập thể vội vàng
Xếp hàng dài từng cây số, dọc ngang
Hệt như cảnh sông Hằng mùa hành hương bên Ấn Độ
Sài gòn ôi, đến bao giờ mở cửa
Những giáo đường thôi vắng bóng lạnh tanh
Chúng mình nhìn nhau ôi, mắt long lanh
Vô hàng ghế, chỗ ngồi quen, chờ lễ.
(Bên Giáo Đường Vắng Tanh)
Cái khổ, cái đói, cái chết… đưa vào thơ, vẫn thơ… nhưng sao mà đớn đau cùng cực!
*
Đình Bảng mở đầu thi tập Kinh Cầu Mùa với bài thơ “Tháng Giêng, Về Long Beach.” Xin cùng tôi đọc những câu thơ rất mượt mà chữ nghĩa và diễm lệ ảnh hình:
Chào Em nhé, Tháng Giêng về Long Beach
Từng lũ chim non vừa mới ra ràn
Cali, vẫn chiều vàng, nắng chói chang
Có hơi ấm biển bờ Tây, rất nhẹ
Ơi, cô gái mang dầu đèn, đi lễ
Đợi khuya nay, vào tiệc cưới sớm hơn
Chiều, ngang qua tượng Đức Mẹ Ban Ơn
Ta đứng đợi, một mình, câu kinh muộn
Chợt nhớ, những ngày xưa, hoa với bướm
Hồn trắng tinh, như trang vở học trò
Sao bây giờ, ngơ ngác giữa metro
Nhìn những toa xe ầm ào, vun vút
Vội gặp gỡ. Vội rời tay, mừng hụt
Vội gần bên. Rồi, thoáng chốc, vèo trôi
Những cặp tình nhân chưa kịp hôn môi
Ghé Westminster hay về Long Beach…
Và, Đình Bảng đóng tập thơ lại với “Ở Lại Với Con, Chiều Đã Muộn.” Cũng xin cùng tôi đọc những câu thơ đẹp, u và trầm trong bài thơ này:
Ở lại với con, chiều đã muộn
Đường xa thăm thẳm, dấu yêu ơi
Lý trình muôn nẻo, đôi chân mỏi
Con bước đi, bước một, rã rời
Ở lại cùng con, ngày đã xế
Trống thu không buồn. Mõ trâu về
Hỏi lòng tan tác, khôn hàn gắn
Vỡ vụn ra trăm mảnh não nề
Ở lại với con, ngày đã hết
Buồn trông ra, chim mới xa bầy
Những mùa rơi rớt, thôi, tàn tạ
Nghe gió hao gầy những ngón tay
Ở lại với con, ngày chạng vạng
Nửa vời, khăn gói cuốn về đâu
Chúa ôi, trong cõi thinh không ấy
Chỉ một mình con đi, cúi đầu
Ở lại với con, đầy bóng tối
Về Emmaus, bờ bãi hoang rêu
Có gì còn lại trên căn gác
Gương giá nào phủ lấy nhiễu điều
Ở lại với con, chiều giục giã
Nếu còn lưu luyến, nhớ nhung ai
Có bao nhiêu nữa, xanh xao ấy
Là những ai kia, với dặm dài
Ở lại với con, chiều bóng xế
Linh hồn con trăn trở, bồn chồn
Đừng xa, đừng bỏ con côi cút
Ở lại cùng con, Chúa của con
Ở lại cùng con thêm chút nữa
Chúa ôi, đêm ập xuống, đêm rồi
Ngoài kia, le lói vài tia chớp
Mắt đã hoen mờ và lệ rơi
Ở lại cùng con, một chút nữa
Đêm mau qua, ngày nắng hoe vàng
Chỉ là sương khói miền tâm tưởng
Và của phù hư của thế gian
Ở lại cùng con, thêm chút nữa
Khi không, ai tâm sự, hàn huyên
Chúa ôi, đêm ba mươi dày đặc
Có lẽ nào, Chúa đành lãng quên.
Chiều đã muộn, có bao giờ trên cuộc trường chinh vạn lý đời người, lữ khách dừng chân, nghĩ về buổi chiều. Buổi chiều không gian, thời gian và buổi chiều đời mình. Nếu có giây phút ấy, lữ khách sẽ cảm nhận một cách sâu xa những lời thơ của Xuân Ly Băng: “Viễn khách ơi, viễn khách ơi / Chiều nay cảm thấy lạnh rồi, phải không?” và nhất là cảm nhận tận đáy lòng những lời thơ của Đình Bảng:
Ở lại với con, ngày chạng vạng
Nửa vời, khăn gói cuốn về đâu
Chúa ôi, trong cõi thinh không ấy
Chỉ một mình con đi, cúi đầu.
Còn biết bao nhiêu chữ nghĩa mượt mà, câu thơ hoa gấm, tình cảm dạt dào, ý tưởng thẳm sâu trong “Kinh Cầu Mùa.” Bạn đọc hãy đọc, hãy tìm rồi sẽ thấy. Mà dễ chừng chẳng tìm mà cũng thấy.
Quyên Di
Ngày Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, 2025